Pháp Ngữ Hòa Thượng Thích Trí Quảng:
Tổ Vĩnh Minh do tu hành, phát triển trí tuệ, mới nói mười người tu Thiền chỉ có một người đắc và Ngài nghiên cứu, nói pháp môn Tịnh độ dễ tu, nên Ngài dạy rằng mười người tu Tịnh độ thì được cả mười người. Tại sao Ngài nói như vậy.
Tôi nghĩ cái được của Thiền là gì và cái được của Tịnh độ là gì. Nếu tu Thiền, đi về thực chứng thì không có ai làm được. Mười người tu Thiền, chín người rớt, trong đó có tôi. Vì theo kinh nghiệm tu của riêng tôi, mình vừa tới mí thì rớt ra. Để làm Phật, khó lắm.
Và Ngài Trí Giả bảo tu Thiền mà rớt, không đắc Thiền là còn may mắn, nhưng rớt vào 51 loại ma, đáng sợ nhất là ngũ ấm ma do Thức của mình biến ra thì đọa. Vì trong tiềm thức, từ vô thỉ kiếp những gì ta đã từng tiếp xúc và quen thuộc cho đến ngày nay, khi đủ duyên, nó sẽ hiện ra. Thí dụ tôi ngủ mơ thấy Phật, thấy thuyết pháp, tôi biết đó là ma. Hôm qua tôi mơ thấy giảng pháp ở Học viện này, nhưng không thấy Tăng Ni. Vậy là do Thức biến, tại sao. Vì trong tâm thức tôi đang phân vân giữa việc giảng pháp ở Học viện và việc đặt đá xây dựng chùa Bát Bửu Phật Đài ngày mai. Vì vậy, trong Thức của tôi, chỉ đạo việc đặt đá, đồng thời cũng chỉ đạo giảng ở đây. Ngủ mơ như vậy vẫn tốt hơn, vì còn nghĩ tới giảng kinh, chỉ sợ suy nghĩ những gì không tốt. Tôi mơ thấy giảng kinh nhưng không có Tăng Ni, điều này cũng đúng. Vì tháng trước tôi giảng không có Tăng Ni, nên tiềm thức tôi đã lưu lại hình ảnh của tháng trước không có Tăng Ni. Thiền sư Nhất Hạnh nói trong biển Thức mênh mông có các loài thủy quái, có những tảng đá ngầm, có cả cuồng phong, cần phải lưu tâm.
Tên bước đường tu, chúng ta nhận ra tiềm thức lưu lại vô số hình ảnh của các kiếp quá khứ cho đến hiện đời. Vì vậy, Trí Giả bảo phải sám hối cho tiêu sạch nghiệp này, để Thức trở thành trắng hoàn toàn gọi là Bạch tịnh thức, thì vào Thiền không còn thấy ma.
Tuy nhiên, các Thiền sư tu ở Tỷ Duệ sơn, Nhật Bản, nói với tôi là họ đã sám hối mười mấy năm mà nghiệp cũng chưa tiêu. Như vậy, người trước có kinh nghiệm rằng không sám hối cho tiêu nghiệp thì rớt vào cảnh giới ma, nhưng sám hối hoài, nghiệp không tiêu thì uổng phí đời tu.
Về sau, có pháp Hồng danh sám hối là lạy từng vị Phật để giúp chúng ta có điểm nương tựa. Còn trước kia, sám hối theo Thiền, dễ rơi vô chỗ trống không sẽ gặp thủy quái xuất hiện. Nhưng thực hiện Hồng danh sám hối, ta có chỗ nương bằng cách mượn hình ảnh Phật để chúng ta quan sát mà chuyển hóa được thân khẩu ý thanh tịnh, tức sạch nghiệp.
Trở lại pháp căn bản thiện ác mà Phật dạy ban đầu. Muốn ngăn chặn ác không cho khởi không gì hơn là làm thiện. Nhờ nghĩ thiện mà tâm niệm ác không sanh. Trên căn bản này, Tổ Vĩnh Minh dạy phải nghĩ đến Phật bằng cách niệm Phật. Điều này kinh Nguyên thủy đã nói có sáu niệm là niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, tu hành phải giữ ba niệm này là chính và mở rộng, có niệm giới, niệm thí, niệm Thiên.
Từ sáu niệm theo Nguyên thủy, về sau, Tịnh Độ tông triển khai thành pháp môn niệm Phật. Hành giả bám vô danh hiệu Phật A Di Đà và hình ảnh Phật A Di Đà để nhiếp tâm.
Pháp môn niệm Phật thực hư chưa biết thế nào, nhưng Hòa thượng Trí Tịnh nói rằng chú tâm vô Phật A Di Đà mà niệm, Ngài được bình yên. Tổ Vĩnh Minh cũng nói vậy. Hòa thượng suốt đời niệm Phật và bảo tôi niệm Phật, bớt việc làm để thêm thì giờ niệm Phật, nên tôi ngại gặp Ngài, vì tôi thích làm việc.
Niệm Phật thấy bình an, còn làm khiến chúng ta thấy bất an. Nhưng riêng tôi cố tập tìm bình an trong bất an. Thật vậy, lúc tôi tham gia Hội đồng Tôn giáo Thế giới vì hòa bình, có tu sĩ của đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành, đạo Hồi…
Làm sao tôi tìm được bình an trong bất an đó, vì các tôn giáo thường chống nhau. Tôi nghĩ cần vô hiệu hóa sự chống trái này là tập hòa mà không đồng. Ngồi trong phòng họp với những người mang hình thức khác nhau hoàn toàn, tôi tìm điểm chung, mẫu số chung để hòa được thì mới bình an.
Thiết nghĩ thời đại của anh em nên đi theo hướng này hơn là đi theo hướng dị biệt, đó là tìm bình an trong cảnh bất an, tìm sự hòa đồng trong sinh hoạt dị biệt. Lý này được một số tôn giáo, một số trí thức ngày nay chấp nhận, đó là hướng chung của thế kỷ XXI, thể hiện sự hài hòa tất cả tôn giáo. Hài hòa với nhau, không lên án nhau, có thể học hỏi, chia sẻ cho nhau, hỗ trợ nhau, đó là sự cần thiết và lợi lạc tối đa của sự hiện hữu đa dạng cộng tồn.
Trên bước đường hoằng pháp, từng bước tôi trải qua sự thể nghiệm theo Thiên Thai tông, Thiền tông, Tịnh Độ tông, tôi nhận thấy mỗi tông đều có điểm tốt khác nhau. Người trước từng có kinh nghiệm, những người đi sau học theo để phát triển nhận thức và ứng dụng vào cuộc sống cho lợi lạc.
Tôi gợi ý về sự phát triển của Phật giáo ở thế kỷ XXI, chúng ta cần hài hòa tất cả tông phái Phật giáo và hơn thế nữa, hài hòa với tất cả tôn giáo trên trái đất, mới mang lợi ích an vui cho số đông. Thật vậy, mỗi tôn giáo chiếm lãnh một vùng và hướng dẫn tinh thần của một số lượng quần chúng. Vì vậy, chúng ta muốn tạo sự an vui trên trái đất, phải hài hòa, không có cách gì khác. Si mê mà nghĩ đến độc tôn, chắc chắn bị tiêu diệt. Tăng Ni tiếp tục suy nghĩ lý này để có phương hướng hoằng pháp trong tương lai được lợi ích trọn vẹn.
Trích bài:
ĐẠO PHẬT Ở THẾ KỶ XXI
Hòa thượng Thích Trí Quảng
(Bài giảng tại Học viện Phật giáo TP.HCM ngày 12-3-2017)